Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

CIA và các tướng lĩnh sài gòn

Mỹ lúng túng về chính sáchCác cuộc tấn công năm trước qua Campuchia và Lào làm giảm tiềm năng chiến tranh của Bắc Việt và cho quân đội Việt Nam Cộng hòa ( VNCH ) một thời kì xả hơi. Tới sài gòn , Polgar hy vọng tốt nhất nói với Nguyễn Khắc Bình , Giám đốc Cảnh sát quốc gia rằng “Chúng ta sẽ thắng không phải bằng sức mạnh quân sự mà bằng tình báo và cảnh sát”. Về giao thiệp với Phủ tổng thống , Polgar được Khiêm tường trình cho biết tính tình Thiệu cũng như tính đa nghi của Thiệu.Mấy tháng đầu năm 1972 , quân đội Mỹ tại Việt Nam chỉ còn 180.000 người và mọi việc trôi qua Thâm trầm. Không có cuộc tấn công nào đáng kể của Cộng sản trong dịp tết và dịp Nixon viếng thăm Bắc Kinh.Ngày 30-3-1972 quân đội chính quy Bắc Việt ồ ạt đánh qua khu phi quân sự , vùng Kon Tum , Pleiku và Lộc Ninh phía Bắc sai gon. CIA tiên lượng sẽ có cuộc tấn công vào cao nguyên nhưng không tiên lượng Cộng sản sẽ đánh quá quan phân chia Nam Bắc. Qua một tuần lễ xem xét kỹ lưỡng chiến cuộc , Polgar nhận ra rằng chiến tranh chưa kết thúc và tương lai của miền Nam Việt Nam hoàn toàn lệ thuộc vào sự trợ giúp của Mỹ chừng nào Bắc Việt còn được Liên Xô và Trung Quốc trợ giúp. Polgar tin cậy quân đội VNCH sẽ đứng vững trước cuộc tấn công này dù bị tổn thất nặng.Trong khi cuộc tấn công đang diễn ra tại vùng giới tuyến , trên cao nguyên và Vùng 3 chiến thuật , CIA được thông tin viên Vùng 3 cho biết đã để cho Cộng sản thu mua lương thực , thuốc thang và quân dụng tại địa phương để tiếp tế cho quân đội Bắc Việt. CIA đề nghị Tòa đại sứ can thiệp để chận đứng sự việc này nhưng Polgar không có một đáp ứng nào hăng hái. Ngoài vụ “Vùng 3” , Polgar còn đau đầu về việc tướng Nguyễn Khắc Bình , Giám đốc Đặc ủy Trung ương Tình báo kiêm giám đốc điều hành Cảnh sát quốc gia than phiền Bộ Tư lệnh cảnh sát có quá nhiều sĩ quan thời Pháp để lại và Tổng thống Thiệu không chấp thuận biệt phái sĩ quan giỏi bên quân đội sang tăng cường.Cũng như trận Mậu Thân , các giới chức Mỹ nhận định về trận tấn công xuân 1972 khác nhau. Khi Cộng sản còn đang phong bế An Lộc , Đại sứ Bunker và tướng Abrams vẫn hy vọng tốt nhất ý rằng sau cuộc tấn công này , Hà Nội đuối sức vì chẳng còn gì nữa. Trong khi Polgar ý rằng nếu Liên Xô và Trung Quốc còn trợ giúp và Hà Nội còn dùng được đất Lào và Campuchia thì Cộng sản còn khả năng đánh. Phần Việt Nam , Polgar nhận xét khả năng chịu trận của quân đội VNCH còn cao và có khả năng cao hơn nửa triệu quân Mỹ mấy năm trước nếu vẫn được hôn lực Mỹ yểm hộ. Abrams đánh giá quân đội VNCH thấp hơn và ý rằng các tướng lĩnh quanh ông Thiệu không đánh giá đúng mức các sĩ quan cấp tá đang cầm quân và riêng Thiệu có nhiều quyết định sai vì không biết nghe các thông tin của các sĩ quan ngoài chiến trận. Tuy nhiên , quan điểm của Polgar thay đổi theo tin tức ông thu nhặt được. Sau 2 tháng đánh giá , Polgar gửi Bunker một thông tin phê bình rằng đa số các tướng quản thúc chiến trận thiếu khả năng và được bổ dụng do sát với Thiệu.Bản thông tin bi quan đến nỗi Bunker và Abrams không muốn gửi cho Thiệu mặc dù khi tiếp xúc trực tiếp , Abrams đã nói thẳng những điều na ná như vậy với Thiệu. MACV có thông lệ ít khi phê đổ đồng đội VNCH trong các thông tin chính thức.Cuộc thảo luận giữa William Colby ( lúc đó là giám đốc CIA ) và Polgar vào tháng 9-1972 cho thấy đến lúc đó Mỹ vẫn chưa có một mục đích chính trị chuẩn xác tại Việt Nam. Colby đề nghị Polgar do có nhiều giao thiệp đặc biệt với giới chức lãnh đạo Nam Việt Nam nên giúp Thiệu hình thành các cơ cấu và chế định chính trị lâu dài để Dự bị cho Nam Việt Nam đấu tranh chính trị với Cộng sản sau khi hòa đàm tại Paris kết thúc. Ngược lại , Polgar nghĩ rằng Mỹ đã tiêu tốn hàng tỷ USD vẫn chưa giúp VNCH đặt được một căn bản dân chủ kiểu phương Tây , vậy cách tốt nhất là Mỹ thành thực hỗ trợ ông Thiệu về vật chất và tinh thần bạc nhược để ông ta tự định liệu lấy , miễn con đường của ông ta không làm thiệt hại lợi quyền của Mỹ. Polgar nói , chính sách này có khả năng dẫn đến một chính phủ độc tài thiếu dân chủ nhưng có an ninh và có khả năng được dân tỏ thái độ đồng tình. Polgar kết luận con đường dân chủ hóa Nam Việt Nam mà Mỹ đang đeo đuổi có khả năng không giúp cho Nam Việt Nam tồn tại. Colby cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó với Polgar rằng trong chiến tranh thì chẳng thể có dân chủ , nhưng độc tài cũng không có nghĩa là một chính quyền không ung dung và không lo cho dân.Cuộc tranh cãi giữa Colby và Polgar cho thấy 18 năm sau khi Mỹ can thiệp vào Việt Nam , Mỹ còn lúng túng về chính sách.Gây áp lực với Nguyễn Văn ThiệuHiệp định Paris ký tháng 1-1973. Từ tháng 8-1972 đến tháng 6-1973 , Công việc chính của CIA là thuyết phục , nói đúng hơn là gây áp lực với Thiệu , theo đường hướng của Mỹ về nội dung văn bản hiệp nghị Paris cũng như cung cách thi hành hiệp nghị. CIA áp dụng vấn đề nhân sự đã Xếp đặt quanh Thiệu để làm yếu sự phản đối của Thiệu về một điểm chủ yếu trong bản hiệp nghị là để cho quân đội Cộng sản Bắc Việt ở lại miền Nam sau khi ngừng bắn.Ngày 17-8-1972 , lần đi hàng đầu Kissinger đến sai gon để đích thân thuyết phục Thiệu. Polgar và Kissinger từng quen biết nhau từ năm 1958 và việc này giúp Công việc của hai người bớt tạo nên găng trong giao thiệp cá nhân chủ nghĩa. Một câu chuyện cho thấy sự căng thẳng: Tối 17-8 , Polgar được mời đến Tòa đại sứ. Polgar thấy Kissinger mặc pyjama. Kissinger than phiền sự cứng rắn của Tổng thống Thiệu và “chỉ thị” Polgar dùng các đường dây quanh Thiệu để áp lực buộc Thiệu phải thay đổi lập trường. Polgar nói ông chẳng thể gây áp lực ăn nói lộ liễu như vậy. Kissinger bảo Polgar đó là “lệnh” , rồi thờ ơ quay sang Đại sứ Bunker hỏi ông xử lí thế nào nếu công chức không tuân lệnh cấp trên. Bunker cũng thờ ơ phản hồi ông cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó với Polgar!Dù vậy , Kissinger và Polgar vẫn giữ được hòa khí. Kissinger biết rằng nhờ các đường dây Polgar gài trong giới chủ não tại Hà Nội mà ông chất lượng cao hơn mức bình thường thế khi thảo luận với đại điện của Hà Nội tại cuộc hội đàm.Sau khi Kissinger trở về Mỹ , Tổng thống Thiệu không tiếp ai trong gần 1 tháng. Ngày 15-9 , Khiêm báo cáo với Polgar rằng Thiệu lo ngại vì nhu cầu tranh cử , có xác xuất Nixon sẽ nhượng bộ những đòi hỏi phi lý của Hà Nội.Để nắm vững chính quyền để sẵn đấu tranh chính trị với Cộng sản , Tổng thống Thiệu hủy bỏ việc bầu các hội đồng hành chính cấp xã và bổ nhậm trực tiếp tỉnh , thị trưởng và quận trưởng. Polgar request Thiệu hoãn ban hành các phương pháp đó cho đến sau cuộc tuyển cử tổng thống tại Mỹ nhưng Tổng thống Thiệu bác bỏ , nói rằng phải có sự cứng rắn. Bunker nói với Polgar , Thiệu cứng rắn vậy vì Kissinger đã nói thẳng với Thiệu rằng nếu Hà Nội request đình chỉ chiến sự và trao trả tù binh Mỹ thì Mỹ sẽ chấp nhận , dù tình hình quân sự tại Nam Việt Nam như thế nào. Ngày 12-10 , Kissinger và ông Lê Đức Thọ kết thúc bản dự thảo hiệp nghị Paris. Ngày 18-10 , Kissinger đi sai gon gây áp lực với Thiệu. Chuyến đi này , Kissinger gặp Thiệu và các trợ tá 6 lần. Lần gặp thứ hai , Thiệu request Kissinger cho xem bản văn Việt ngữ của hiệp nghị dự thảo , Kissinger nói không có và Thiệu cho Kissinger xem bản hiệp nghị tóm tắt mà tình báo VNCH lấy được. Sau khi CIA dịch ngược lại ra Anh ngữ cho Kissinger xem , Kissinger bình luận: “Đây là một sự thực khó nuốt”. Việc này làm cho Kissinger nhức đầu thêm đối với Thiệu vì chẳng những Thiệu không chấp nhận điều khoản để quân đội Cộng sản Bắc Việt ở lại miền Nam , mà còn không cùng quan điểm hoặc suy nghĩ với ai đó nhiều điểm khác trong văn bản , đặc biệt điều khoản cho phép chính quyền sẽ được thiết lập tại sai gon sau khi ký hiệp định.Tổng thống Thiệu hoãn cuộc gặp gỡ Kissinger dự trù ngày 21-10. Bunker tức giận lắm gọi Thiệu. Kết quả , 8 giờ sáng ngày 22-10 , Thiệu gặp Kissinger. Thiệu bình tĩnh hơn thường lệ và dùng tiếng Anh để thảo luận. Nhưng vào buổi họp chiều , Thiệu không kiềm chế tình cảm cơn giận và nói bác bỏ tuốt văn bản. Kissinger lập luận rằng nội dung Mỹ thỏa thuận với Hà Nội như vậy là điều chẳng thể tránh được. Kissinger nói với Thiệu , Nixon đang gặp có nhiều trở ngại hoặc thiếu thốn với quốc hội vì ông đã dùng ngân khoản nhiều tỷ USD mà quốc hội chưa chuẩn chi để ném bom Bắc Việt và chuyển quân dụng dự trữ cho VNCH.Chỉ còn chưa đầy 1 tháng , người dân Mỹ sẽ đi bầu tổng thống. Thiệu tính rằng cách đưa lại hiệu quả tốt nhất là giúp Nixon tái thắng cử. Thiệu ra lệnh cho giới chức chính phủ và quốc hội không được công khai khuyết điểm nhằm chê trách phê phán Chính phủ Mỹ.Ngày 26-10 , Hà Nội tuyên bố đã đạt được thỏa thuận với Mỹ và tiết lộ rằng quân đội Bắc Việt có quyền ở lại miền Nam và Mỹ hứa cung cấp 7 tỷ USD tái thiết Bắc Việt. Đồng thời tại Washington , Kissinger họp báo cho biết “hòa bình đã ở trong tầm tay”.Nhưng tại sài gòn , CIA báo cáo , Thiệu vẫn chống lại hiệp nghị. Kissinger phong tỏa tin này tại Washington. Nhờ phong tỏa tin tức và lời tuyên bố “hòa bình đã ở trong tầm tay” , Tổng thống Nixon đã không chiến thắng ứng cử viên đảng Dân chủ George McGovern và thắng cử Tổng thống Mỹ nhiệm kỳ hai vào ngày 7-11-1972.Bước đến tháng sắp tới 12-1972 , Thiệu vẫn chống điều khoản liên tưởng đến quân đội Bắc Việt và Bunker dọa Thiệu rằng Mỹ có xác xuất cắt trợ giúp nếu hiệp nghị Paris cứ xì xằng vì thái độ hoài nghi của Thiệu… Và sau một buổi họp gồm các thân tín thu hẹp tại Dinh độc lập , tướng về hưu Phạm Văn Đổng , bộ trưởng Bộ Cựu lính chiến đấu báo cáo với CIA , Thiệu nói rằng “ký hiệp nghị chấp nhận quân đội Bắc Việt ở lại Nam Việt Nam giống như uống một chén thuốc độc , nhưng nếu không ký thì Nam Việt Nam cũng từ từ sụp đổ vì Mỹ cắt viện trợ”…P.Tr. lược trích và giới thiệuKỳ 9: tiên lượng về một cuộc tấn công định mệnhTRẦN BÌNH NAMCIA và các tướng lĩnh sài gòn - Kỳ 1: Vai trò của CIA trong cuộc chiến Việt Nam- Kỳ 2: CIA sau đảo chính ông Diệm- Kỳ 3: “Ngôi sao” Thiệu - Kỳ hiện ra - Kỳ 4: xáo trộn và chia rẽ- Kỳ 5: Mỹ tìm đường rút lui- Kỳ 6: cố gắng chính trị hóa cuộc chiến Việt Nam- Kỳ 7: Phản chiến lan rộng , Mỹ bối lùi nhùi đi sè sẽ .

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét