Các khái niệm về lao vụ từng lớp và lao vụ
từng lớp cho người yếu thế
1. Dịch vụ là gì?
Trong cuộc sống hiện tại chúng tôi biết đến rất nhiều
hoạt động trao đổi được gọi chung là lao vụ và trái lại lao vụ bao gồm rất nhiều
các loại hình hoạt động và nghiệp vụ trao đổi trong các khu vực và ở cấp độ khác
nhau. Đã có nhiều khái niệm , định nghĩa về lao vụ nhưng để có hình dong về lao
vụ trong chuyên đề này , chúng tôi tham khảo một số khái niệm lao vụ cơ bản.
Theo tự vị Tiếng Việt: lao vụ là công việc
phục vụ trực tiếp cho những nhu cầu một mực của số đông , có tổ chức và được trả
công [Từ điển Não Khởi Thẩm , 2004 , NXB Thái Nguyên , tr256]
Định nghĩa về lao vụ trong kinh tế học được hiểu là
những thứ tương tự như hàng hoá nhưng phi vật chất [Từ điển Wikipedia]. Theo ý
kiến kinh tế học , thực chất của lao vụ là sự cung ứng để đáp ứng nhu cầu như:
lao vụ du lịch , thời trang , chăm nom sức khoẻ...và mang lại lợi nhuận.
Philip Kotler định nghĩa dịch vụ: lao vụ là một hoạt
động hay ích lợi cung ứng nhằm để trao đổi , chính yếu là vô hình và không dẫn
đến việc chuyển quyền sở hữu. Việc thực hiện lao vụ có khả năng gắn liền hoặc
không gắn liền với sản vật phẩm chất.
Tóm lại , có nhiều khái niệm về lao vụ được phát biểu
dưới những góc độ khác nhau nhưng tựu chung thì:
lao vụ là hoạt động có chủ đích nhằm đáp ứng nhu cầu nào
đó của con người. Đặc điểm của lao vụ là không tồn tại ở dạng sản phẩm cụ thể
( hữu hình ) như hàng hoá nhưng nó phục vụ trực tiếp nhu cầu một mực của từng
lớp.
2. Dịch vụ từng lớp là gì?
Trong phông nền của nghiên cứu này , phạm
trù lao vụ từng lớp được đặt trong mối liên quan với chức năng bảo đảm Yên Tâm
và phát triển từng lớp của ngành LĐTBXH , do đó để hiểu khái niệm lao vụ từng
lớp , chúng tôi cần làm rõ mối liên quan với khái niệm quan trọng là chính sách
từng lớp. Vậy chính sách từng lớp là gì? Và mối giao tế của chính sách từng lớp
với lao vụ từng lớp như thế nào?
* Khái niệm về chính sách từng lớp
Chính sách từng lớp là sự cụ thể hoá ,
thiết chế hoá các đường lối , chủ trương để giải quyết những vấn đề từng lớp dựa
trên những tư tưởng , ý kiến phù hợp với thực chất xã hội-chính trị phản ảnh ích
lợi và trách nhiệm của cộng đồng từng lớp nói chung và của từng nhóm từng lớp
nói riêng nhằm tác động trực tiếp vào con người và điều chỉnh các giao tế giữa
con người với con người , giữa con người với từng lớp , hướng tới mục tiêu cao
nhất là thoả mãn những nhu cầu càng ngày càng tăng về đời sống vật chất , văn
hoá và tinh thần của dân chúng. [Bùi Dũ Ông Tuất , từng lớp học và Chính sách
từng lớp , NXB KHXH , Hà Tĩnh , 2004 , tr 290]
Như vậy , mục tiêu của chính sách từng lớp
có điểm giống nhau với lao vụ là đáp ứng nhu cầu của con người trong các từng
lớp cụ thể và chính sách là sự thiết chế hoá các đường lối , chủ trương của nhà
nước ( vĩ mô ).
Một số ý kiến tuy rằng lao vụ từng lớp là
những hình thức cụ thể hoá của các chính sách từng lớp. Nên hiểu khái niệm lao
vụ từng lớp như là những phương thức nhằm đáp ứng nhu cầu từng lớp , đặc biệt là
các nhóm đối tượng yếu vậy mà nhà nước và các tổ chức chính phủ và phi chính phủ
( NGO ) thực hiện và cung cấp [social networks].
* lao vụ từng lớp cơ bản
đầu tiên , để hiểu rõ hơn về các nhu cầu cơ bản trong
cuộc sống , chúng tôi đưa ra các ý kiến của các nhà khoa học về nhu cầu tối
thiểu trong cuộc sống.
Theo quan niệm của Mác: “Nhu cầu là đòi hỏi khách quan của mỗi con
người trong những điều kiện một mực , đảm bảo cho sự sống và phát triển của
mình”
Theo ý kiến A.Maslow chia nhu cầu thành 5 loại:
Duy TuyếtNgân Pháp cầu vật chất ( sinh lý
): thức ăn , khí trời , nước uống...
Tôn Đây Tiếp cầu Bình Nguyên ( canh giữ
): nhà ở , việc làm , sức khoẻ...
Thông TrọngChung Đảm cầu giao tiếp từng
lớp : Tình yêu thương , được hoà nhập
Cù Đoài Trương cầu được tôn trọng: Được
chấp thuận có một vị trí trong một nhóm người...
Thù MỹPhương Pháp cầu tự khẳng định mình:
Nhu cầu hoàn thiện , được biểu lộ khả năng và tiềm lực của mình.
Và lao vụ từng lớp được liên hiệp quốc định nghĩa như
sau: lao vụ từng lớp cơ bản là các hoạt động lao vụ cung cấp những nhu cầu cho
các đối tượng nhằm đáp ứng những nhu cầu tối thiểu của cuộc sống ( UN -
Africa Spending Less on Basic Social Services ).
Như vậy:
lao vụ từng lớp cơ bản là hệ thống cung
cấp lao vụ nhằm đáp ứng những nhu cầu cơ bản của con người và được từng lớp thừa
nhận.
lao vụ từng lớp cơ bản được chia thành 4
loại chính
- lao vụ đáp ứng những nhu cầu vật chất cơ
bản: Việc ẩm thực , vệ
sinh , chăm nom , nhà ở....mọi đối tượng yếu thế là con trẻ , người tàn tật mất
khả năng lao động đều phải được đáp ứng nhu cầu này để phát triển về thể lực.
- lao vụ y tế : Bao gồm các hình thức khám trị liệu ,
điều dưỡng bình phục chức năng về thể chất cũng như tinh thần cho các đối tượng.
- lao vụ giáo dục: Trường học , các lớp tập huấn , đào tạo kỹ
năng sống , các hình thức giáo dục hoà nhập , hội nhập và chuyên biệt...
- lao vụ về giải trí , tham dự và thông
cáo : Đây là loại hình
lao vụ từng lớp rất quan trọng đối với các đối tượng thuộc nhóm đối tượng công
tác từng lớp , hoạt động giải trí như văn nghệ , thể thao , ... nâng cao sự tự
tin , đẩy mạnh hoà nhập tốt hơn với cộng đồng , nâng cao sự am tường , kiến thức
cho đối tượng...
* lao vụ công cộng
lao vụ do khu vực ấn độ dương công cộng tạo ra được gọi
là lao vụ công cộng. Khu vực ấn độ dương công cộng giữ một vai trò quan trọng
trong nền kinh tế quốc dân và có thuộc tính rất đa dạng phản ảnh phê chuẩn các
chức năng mà nó thực hiện. Đó là chức năng công cộng của nhà nước ( các bộ ngành
) , chức năng công cộng về bờ cõi ( UBND tỉnh , huyện , xã ) , chức năng công về
y tế-sức khỏe , các doanh nghiệp và tổ chức công cộng. Các doanh nghiệp và tổ
chức này cũng gồm nhiều loại hình khác nhau: doanh nghiệp nhà nước , doanh
nghiệp công ích , doanh nghiệp tư nhân hoạt động dưới sự bảo trợ và rà soát của
các tổ chức công cộng ( trường học ) , các tổ chức canh giữ từng lớp ( cảnh sát
, Hòa Thành ).
lao vụ công cộng là một bộ phận của khu vực ấn độ dương
công cộng , liên quan đến các hoạt động mà mục tiêu là cung cấp cho mọi công dân
các loại lao vụ phù hợp với ích lợi của cộng đồng , từng lớp.
Tuy nhiên , không hề có sự phân biệt ăn ở nào giữa các
công dân được hưởng hoặc có khả năng hưởng những lao vụ đó. Nói cách khác , lao
vụ công là tập hợp những lao vụ cung cấp nhằm bảo đảm cho người sử dụng/công dân
trong quang cảnh phát triển của sự đoàn kết từng lớp và mang tính phổ cập/phổ
thông. Chính vì lý do này nên lao vụ công cộng có khả năng chuyển giao cho khu
vực ấn độ dương tư nhân đảm nhận.
Vì tầm quan trọng và tính đa dạng của lao vụ công cộng
mà được thừa nhận: việc phân biệt giữa khu vực ấn độ dương công cộng và lao vụ
công cộng chỉ mang tính tương đối tùy thuộc vào mực độ can thiệp của chính quyền
và tính từng lớp của dịch vụ.
3. Khái niệm lao vụ từng lớp
giả dụ lao vụ là một khái niệm đơn lẻ thì
lao vụ từng lớp lại là một khái niệm kép. Thuật ngữ “xã hội” trong khái niệm này
có khả năng được hiểu theo hai nghĩa.
Thứ nhất là tính mục tiêu , nghĩa là lao vụ hướng
tới phát triển từng lớp ( theo nghĩa này thì bất kỳ lao vụ nào đóng góp vào mục
tiêu phát triển từng lớp đều được coi là lao vụ từng lớp ).
Thứ hai là về chuẩn mực hay tính từng lớp , nghĩa
là lao vụ để bảo đảm các giá trị , chuẩn mực từng lớp. Theo nghĩa này thì lao vụ
từng lớp cung cấp những hỗ trợ cho các thành viên trong từng lớp được ( i ) chủ
động phòng chống khả năng xảy ra rủi ro để dẫn đến không bảo đảm giá trị và
chuẩn mực xã hội; ( ii ) chủ động tiếp cận hạn chế ảnh hưởng của rủi ro dẫn
đến không bảo đảm giá trị và chuẩn mực xã hội; ( iii ) khắc phục rủi ro và hòa
nhập cộng đồng/xã hội trên cơ sở các giá trị , chuẩn mực từng lớp.
Trong chuyên đề nghiên cứu này , quan niệm
về lao vụ từng lớp ( social services ) được hiểu theo nghĩa là thứ hai tức thị
các lao vụ để bảo đảm các giá trị , chuẩn mực có tính từng lớp. Từ cách tiếp cận
đó , khái niệm lao vụ được phát biểu như sau:
lao vụ từng lớp là hoạt động cung cấp ,
đáp ứng nhu cầu cho các cá nhân , nhóm người một mực nhằm bảo đảm các giá trị và
chuẩn mực xã hội.
Q uan niệm này cũng tương đồng với khái niệm
về lao vụ từng lớp trong tài liệu “ good practices in social services
delivery in SEE ” theo đó: lao vụ từng lớp là các sáng kiến , can thiệp nhằm
vào các nhu cầu và vấn đề của hầu hết nhóm đối tượng dễ tổn thương , bao gồm cả
việc chận hành tội , nghèo đói , tan vỡ gia đình , tàn tật ( tinh thần và thể
chất ) và tuổi già. Những ví dụ cụ thể về lao vụ từng lớp là: bình phục chức
năng , nhà lao vụ viện trợ , nhà chăm nom và nuôi dưỡng , lao vụ thức ăn , chăm
nom ban ngày , … và các hình thức khác được thực hiện bởi những người làm công
tác từng lớp và/hoặc các chuyên gia liên quan.
Bên cạnh cách hiểu trên , một cách hiểu
khác nhìn từ vai trò của người cung cấp service và đối tượng/khách hàng cho
rằng: service xã hội là các service do quốc gia , tập thể cung cấp cho thành
viên xã hội. Tuy nhiên cách hiểu này ít nhiều “máy móc” , thiếu tính bao quát và
cũng không phổ biến.
Một khái niệm hợp nhất về service xã hội
cho người yếu thế là rất cần thiết và đó cũng là cơ sở để Hòa Hiếu hệ thống giao
thông service xã hội cho các nhóm đối tượng này. Dựa vào những lý giải về
service , chính sách xã hội , service xã hội , service xã hội căn bản nêu trên ,
khái niệm service xã hội cho người yếu thế được hiểu là:
service xã hội cho nhóm yếu thế là các
hoạt động có chủ đích của con người nhằm phòng ngừa-hạn chế và khắc phục xui xẻo
, đảm bảo đáp ứng được nhu cầu căn bản và thúc đẩy khả năng hoà nhập cộng đồng ,
xã hội cho nhóm đối tượng yếu thế
công năng của service xã hội:
service xã hội cung cấp và trợ giúp phê duyệt các
service đặc thù giúp các công dân trong xã hội có xác xuất xây dựng cuộc sống
tốt đẹp hơn bằng sự Cửu Cao về kinh tế , sự khẳng định quyền con người được hòa
nhập và tham gia vào thị trường cần lao cũng như các hoạt động cộng đồng , xã
hội.
Các service xã hội phổ thông là:
1. Tạo hoàn cảnh cho những người thuộc
nhóm tiền lương thấp có việc làm và tham gia vào các hoạt động làm ra tạo tiền
lương có xác xuất đáp ứng được nhu cầu tối thiểu và duy trì được sự Long Biên
về tài chính;
2. Các service xã hội giúp cho các đối
tượng yếu thế trở nên đồng đẳng và có xác xuất đóng góp và hoà nhập cao nhất đối
với gia đình , cộng đồng và xã hội ;
3. Thúc đẩy tính bổn phận và mối giao
thiệp gắn kết giữa gia đình và các thành viên và chắc chắn gia đình thành chỗ
dựa Kỳ Phú nhất cho các đối tượng yếu thế;
4. Trẻ nít thuộc những gia đình không có
xác xuất chăm sóc có xác xuất nhận được sự giúp đỡ từ cộng đồng , xã hội;
5. Cung cấp các service về nhà ở với tiêu chuẩn đáp ứng
được hoàn cảnh tối thiểu về chất lượng cuộc sống;
6. Giúp người tật nguyền có xác xuất sống Thiệu Phúc hơn
và tham gia một cách hăng hái trong các hoạt động kinh tế cũng như hoạt động
cộng đồng;
7. Thúc đẩy việc chăm sóc sức khoẻ và gắn kết các chủ
thể với các nguồn lực;
8. Tạo ra các service tham vấn và chữa bệnh tâm lý cho
các đối tượng;
9. Giúp các đối tượng tiếp cận với các kênh thông tin và
và tạo thời cơ lựa chọn tốt hơn;
10. Giúp các đối tượng tiếp cận dễ dàng hơn với các
hoạt động giải hoà , cãi các vấn đề xã hội.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét